Đảng Cộng Sản Việt Nam Qua Những Biến

Động Trong Phong Trào Cộng Sản Quốc Tế - 3

 

Nguyễn Minh Cần

 

Trước khi đi sâu vào vấn đề này, người viết xin lưu ư bạn đọc vài điều nhận xét sau đây.

Tất cả những biến động đó đều có nguyên nhân sâu xa. Thường là do những trận đấu tranh giành quyền lực trong nội bộ ĐCS, hoặc do những khủng hoảng của chế độ xă hội mà những người cộng sản đă dựng lên. Cũng lắm khi cả hai nguyên nhân cùng tác động.
C̣n nói về khủng hoảng chế độ th́ đó là một căn bệnh măn tính (chronique) của chế độ cực quyền cộng sản, v́ chế độ này được dựng lên hoàn toàn trái quy luật tự nhiên, trước hết là trái với quy luật kinh tế chung, nên không bao giờ có thể giải quyết nổi những vấn đề quan trọng nhất về kinh tế và đời sống. Khủng hoảng theo sau chế độ cộng sản như h́nh với bóng. Nó đă xuất hiện nặng nề ngay từ dưới thời Lenin, và chính ông ta đă phải thừa nhận điều đó tại đại hội 10 của ĐCS (1921), là đại hội đă chấm dứt đường lối tiến nhanh vào chủ nghĩa cộng sản (về sau những người cộng sản gọi đó là -chủ nghĩa cộng sản thời chiến-) và chuyển qua -chính sách kinh tế mới- (NEP), cụ thể là nới lỏng sợi dây trói cổ kinh tế tư nhân và thị trường tự do. Bệnh khủng hoảng trầm kha đó cứ thế truyền măi từ triều đại tổng bí thư này sang tổng bí thư khác. Cứ mỗi lần căn bệnh phát ra quá nặng nề, ĐCS lại cố gắng điều chỉnh tí chút về chính sách, cố nới ra một chút sợi dây trói kinh tế tư nhân và thị trường tự do, c̣n khi khủng hoảng hơi dịu xuống th́ lại siết chặt dây trói. V́ nguồn gốc khủng hoảng nằm trong bản chất của chế độ, nằm ở ư thức hệ, ở tư duy lư luận của những người cộng sản, cho nên mọi -sửa chữa- lặt vặt, mọi đdiều chỉnh- hời hợt, mọi -cải tổ- nửa vời, mọi đdổi mới- không triệt để, thậm chí vờ vĩnh ... đều không thể nào thanh toán tận gốc khủng hoảng chế độ cực quyền cộng sản được. Và cuối cùng, chế độ đó phải bị quy luật kinh tế và thị trường tự do cùng với phong trào dân chủ đè bẹp.
1.Thời kỳ biến động lớn đầu tiên:

Sau khi Lenin chết, Stalin tiêu diệt đảng của Lenin, dựng lên đảng riêng và bộ máy đảng-nhà nước riêng của ḿnh để làm công cụ cho quyền lực cá nhân vô hạn. Trong thời kỳ này các lănh tụ cộng sản thân tín của Lenin đều bị loại ra khỏi bộ máy lănh đạo của ĐCSLX và QTCS, bị đàn áp, thậm chí bị tàn sát bi thảm. Hàng chục triệu người bị khủng bố, tù đày, hành quyết. Riêng Trotsky, lănh tụ đứng thứ hai sau Lenin, bị thanh trừng rồi bị trục xuất ra khỏi Liên Xô và cuối cùng bị ám sát. Khi thấy Đệ Tam Quốc Tế (QTCS) đă bị Stalin lũng đoạn, Trotsky lập ra Đệ Tứ Quốc Tế, do đó trong PTCSQT lại có thêm một cánh Đệ Tứ.
Sau khi Stalin chết, Khrutschev vạch trần tội ác của Stalin tại đại hội 20 của ĐCSLX và đại hội đó đă đề ra đường lối chính sách mới. Nghị quyết đại hội 20 được sự đồng t́nh của nhiều ĐCS trên thế giới, nhưng Mao Trạch Đông và ĐCSTQ phản đối, kéo theo lănh tụ một số ĐCS ở Albania và vài nước Á châu, như Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Indonesia ... gây ra sự chia rẽ trầm trọng trong PTCSQT, dẫn đến sự xung đột của hai nước -xă hội chủ nghĩa- lớn nhất thế giới.
Nhân thể xin nói thêm chút ít về thời kỳ đầu: trong các tài liệu lịch sử c̣n lưu lại ở kho lưu trữ của QTCS (hiện nay là RSKHIDNI) mà giới nghiên cứu có thể tiếp cận được, có ghi lại đôi điều về thái độ của ĐCSVN hồi đó. Nổi bật là những lời rất mạnh của Nguyễn Ái Quốc chống chủ nghĩa Trotsky và những người trotskistes, ông buộc cho họ tội -phản bội, gián điệp, tay sai đế quốc-, hoàn toàn rập khuôn lời lẽ của cơ quan tuyên truyền của Stalin. Có người cho rằng ông ta nghĩ như thế thật với ḷng cuồng tín của một đồ đệ của Stalin, với lối lu loa, vu khống, sỉ nhục, thóa mạ họ một cách rất -Stalin-. Đọc lại ba bức thư ông viết cho ĐCSVN hồi năm 1939, thấy đầy rẫy những lời chửi bới -chúng là một lũ bất lương, những con chó săn của chủ nghĩa phát xít Nhật và chủ nghĩa phát xít quốc tế-, đàn chó trotskistes-, -những kẻ đầu trâu mặt ngựa-, -những đứa không c̣n phẩm giá con người, những tên sẵn sàng gây mọi tội ác-, -kẻ thù của nền dân chủ và tiến bộ-, -bọn phản bội và mật thám tồi tệ nhất-, v.v... (xem -Hồ Chí Minh Toàn tập-, t.3, tr.97-100). Cũng v́ đầu óc staliniste như vậy nên sau khi ông nắm được chính quyền th́ hàng loạt lănh tụ trotskistes Việt Nam (và các đảng quốc gia nữa) đă bị Việt Minh (tức là ĐCSVN) giết hại: Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Phan Văn Chánh, Trần Văn Thạch, Nguyễn Văn Sổ, Lê Ngọc, Lê Văn Hương, v.v...
Chuyện này th́ sau khi Trotsky bị hạ bệ, Nguyễn Ái Quốc giấu kỹ. Măi gần đây, hồi tháng 10 năm 1999, trên đài truyền h́nh Arte ở Pháp có chiếu bộ phim tư liệu quư -Niềm Tin Thế Kỷ - La Foi du Siècle- của Patrick Rotman và Patrick Barbéris trong đó có h́nh ảnh Lev Trotsky đứng nói chuyện với Nguyễn Ái Quốc năm 1924. Tờ Điễn Đàn - Forum- (Paris) có viết qua về bộ phim có giá trị này trong số tháng 10/1999. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng phe cánh Stalin không hề tin cậy Nguyễn Ái Quốc, điều này biểu hiện ra trong vài lần ông bị thất sủng ở cơ quan QTCS (1934-1938) và trong cuộc đón tiếp lạnh nhạt Stalin dành cho ông khi ông đến Moskva lần đầu (1950) với cương vị chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng ḥa. Người viết những ḍng này không có tài liệu để nhận xét, nên chỉ xin giới thiệu những ư kiến khác nhau để bạn đọc suy nghĩ.
III.a. Thời kỳ biến động lớn thứ hai: Đại hội 20 ĐCSLX và sự phân liệt trong PTCSQT

Khủng hoảng chính trị c̣n biểu hiện ở những cuộc thanh trừng mà Stalin tiến hành tại tại Liên Xô ("vụ án Leningrad", "vụ án các bác sĩ", v.v... và việc chuẩn bị đợt thanh trừng mới) và tại các nước "chư hầu" , như Bulgaria, Tiệp Khắc, Ba Lan, Đông Đức, v.v... làm nhiều lănh tụ cộng sản các nước đó bị giết, bị tù, bị thất sủng. Nó cũng biểu hiện ở cuộc đánh phá Tito và ĐCS Nam Tư (tên chính thức là Liên minh những người cộng sản Nam Tư)ø bắt đầu ngay sau khi chiến tranh thế giới kết thúc. Trong lúc đó, cuộc tranh giành quyền lực giữa các nhóm phái trong ĐCSLX vốn ngấm ngầm khi Stalin c̣n sống, đă bùng ra quyết liệt sau khi Stalin chết. Các nhân vật chính trong trận thư hùng này là "bộ ba" tam đầu chế (triumvirat): Malenkov nắm bộ máy chính phủ, Beria nắm bộ máy công an mật vụ và Khrutshev nắm bộ máy đảng. Trong "bộ ba" này th́ Beria là người có thế lực nhất và nguy hiểm nhất, nhưng người giành thắng lợi lại là Khrutshev. Khi lên ngôi vị mới rồi, Khrutshev và ban lănh đạo mới của ĐCSLX cố t́m mọi cách để vượt qua cuộc khủng hoảng.਀
Đến tháng 2.1956, khi Khrutshev củng cố được vị thế lănh tụ trong đảng rồi th́ đă diễn ra đại hội 20 ĐCSLX. Đó là một sự kiện chưa từng thấy trong lịch sử PTCSQT, nó giống như một trận địa chấn đă làm rung động đếùn tận gốc rễ các ĐCS, gây ra hậu quả đầy kịch tính là sự phân liệt của PTCSQT thành hai phe kịch liệt ḱnh chống nhau, buộc tội cho nhau là "xét lại hiện đại" và "giáo điều bảo thủ".
Sở dĩ Khrutshev đă hành động như thế v́:
bản thân ông cũng như nhiều người khác trong ban lănh đạo đảng hồi bấy giờ kẻ ít người nhiều đều có dính dáng đến những tội ác của Stalin, nên không ai muốn phơi bày hết sự thật;
ông phải cân nhắc "liều lượng" công khai hóa các tội ác để giảm thiểu sự chống đối của các ủy viên bảo thủ trong Chủ tịch đoàn trung ương (CTĐ TƯ - tên gọi hồi đó của Bộ chính trị) đảng, trong đó không ít địch thủ của ông, để có thể được đồng ư báo cáo công khai trước đại hội. Và ông đă làm việc này với ḷng dũng cảm lớn và tinh thần trách nhiệm caọ
Sau khi ĐCSLX chính thức công bố những tội ác của Stalin, người đầu tiên phản đối việc chống sùng bái cá nhân là Mao Trạch Đông. Chẳng phải ông ta quư mến ǵ Stalin (nhiều người biết là Mao vẫn ngấm ngầm căm ghét Stalin trong nhiều việc, nhất là thái độ trịch thượng của Stalin đối với Mao trong lần ông đến Moskva hồi năm 1950), nhưng Khrutshev đụng đến sự sùng bái Stalin tức là đụng đến sự sùng bái bản thân Mao, mà Mao th́ rất cần nuôi dưỡng sự sùng bái đó để có thể cai trị đám thần dân của ông hồi đó đông đến trên 600 triệu người. Thái độ của Mao có ảnh hưởng đến nhiều lănh tụ cộng sản đang cầm quyền ở Albania, Triều Tiên, Việt Nam ... Ở các nước Âu Mỹ, do tŕnh độ dân trí cao, ư thức dân chủ mạnh, có thông tin đầy đủ, sự hoan nghênh và ủng hộ mạnh mẽ của trí thức, công nhân và đảng viên đối với những nghị quyết của đại hội 20 ĐCSLX, nên hầu hết lănh tụ cộng sản các nước Âu Mỹ không ai công khai phản đối việc phê phán Stalin, dù có thể có người không bằng ḷng trong bụng. Điều này khác hẳn với các nước c̣n ảnh hưởng văn hóa phong kiến nặng nề, ư thức dân chủ non yếu, đảng viên cũng như dân chúng quen thói sùng bái, thần phục lănh tụ, cho nên lănh tụ cộng sản các nước này thường dễ dùng thủ đoạn đánh lừa (manipuler) cán bộ đảng viên và dân chúng. Họ bưng bít tin tức về đại hội 20, hạn chế, thậm chí bóp méo thông tin để tha hồ giải thích về vấn đề Stalin theo cách của họ. Không những thế, nhiều đảng, như ĐCSVN, c̣n cấm tuyệt cán bộ, đảng viên không được đả động đến Stalin.
Loài người đang đứng trước hiểm họa nghiêm trọng của cuộc chiến tranh thế giới mới với những vơ khí hủy diệt khủnh khiếp, như bom nguyên tử, bom nhiệt hạch, v.v... cho nên nhiệm vụ cấp thiết của các ĐCS trên thế giới là phải đấu tranh bảo vệ ḥa b́nh, ngăn ngừa chiến tranh, chống chạy đua vơ trang, đ̣i giải trừ quân bị. Các ĐCS phải biết dùng những khẩu hiệu đó để tập hợp quanh ḿnh một phong trào quần chúng rộng lớn để chống lại âm mưu của chủ nghĩa đế quốc. Khác với trước, ĐCSLX không công khai đặt vấn đề hệ thống xă hội chủ nghĩa phải dùng bạo lực để giải quyết vấn đề "ai thắng ai" với hệ thống tư bản chủ nghĩa, mà đặt vấn đề "cùng tồn tại ḥa b́nh" và "thi đua ḥa b́nh" giữa hai hệ thống, v́ hồi đó những người cộng sản Liên Xô tin tưởng rằng trong cuộc "thi đua ḥa b́nh", hệ thống xă hội chủ nghĩa sẽ thắng hệ thống tư bản chủ nghĩa. ĐCSLX cho rằng ngày nay đă có khả năng ngăn ngừa chiến tranh thế giới, có khả năng ḥa b́nh giành được chính quyền và chuyển lên chủ nghĩa xă hội ở các nước tư bản chủ nghĩa. Về mặt đối nội, ĐCSLX cho rằng các ĐCS cầm quyền ở nước xă hội chủ nghĩa cần ra sức phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho dân chúng, đồng thời mở rộng tự do dân chủ, coi trọng chế độ pháp trị xă hội chủ nghĩa và chống sùng bái cá nhân lănh tụ. Đó là những cơ sở cho hệ thống xă hội chủ nghĩa giành được thắng lợi cuối cùng.
Thái độ của Mao Trạch Đông và ĐCSTQ đối với những nghị quyết của đại hội 20 ĐCSLX đă tạo ra nguy cơ phân liệt trong PTCSQT, dù rằng cho đến tháng 10.1957 sự hợp tác giữa hai chính phủ Liên Xô và Trung Quốc đă đạt đến đỉnh cao - trong tháng đó hai chính phủ đă kư hiệp định bí mật về hợp tác quân sự với mục tiêu cụ thể: tăng cường công nghiệp quân sự cho Trung Quốc, xây dựng theo thiết kế và thiết bị của Liên Xô và chuyển giao bom nguyên tử cho Trung Quốc cùng kỹ thuật sản xuất bom đó. Đây là hiệp định đầu tiên và cho đến nay là trường hợp duy nhất một cường quốc sẵn sàng chia sẻ với đồng minh của ḿnh những bí mật về bom nguyên tử (cố nhiên, về sau do quan hệ giữa hai nước xấu đi, nên hiệp định này đă không được thi hành).
Đảng Cộng Sản Liên Xô lại cố vận động cho một cuộc hội nghị quốc tế nữa. Tại đại hội ĐCS Rumanie (tên chính thức là Đảng công nhân Rumanie) hồi tháng 6.1960, trong cuộc gặp mặt của các phái đoàn các Đảng đến dự đại hội đă có cuộc trao đổi ư kiến để chuẩn bị cho cuộc hội nghị các ĐCS và ĐCN thế giới sắp tới, bỗng dưng bùng nổ cuộc tranh căi gay gắt giữa Khrutshev và Bành Chân. Tuy vậy, đến tháng 11 năm 1960, cuộc hội nghị quốc tế đó cũng đă họp được với thành phần đông hơn trước: đại biểu 81 đảng (trên thế giới hồi đó có 86 đảng), trong số đó có 70 đảng tán thành quan điểm của ĐCSLX. Lại tranh căi kịch liệt giữa hai ĐCS lớn nhất thế giới, rồi lại thỏa hiệp nhau bằng một tuyên bố chung.
Về mặt đối nội: Ngay sau đại hội 20, Khrutshev và ban lănh đạo ĐCSLX ra sức tháo gỡ ng̣i nổ ở kho thuốc súng bất măn xă hội trong nước. Họ thành lập ủy ban xét lại các vụ án chính trị dưới thời Stalin, minh oan và trả tự do cho hàng trăm ngàn tù nhân bị giam giữ trong các trại tập trung và phục hồi danh dự cho hàng trăm ngàn người khác đă bị chết oan. Ở nông thôn, nông dân được cấp giấy thông hành (passports) và từ đó lần đầu tiên dưới chế độ xô-viết, nông dân được đi lại tự do trong nước của ḿnh! Chính phủ xô-viết đă quyết định giảm thuế vốn rất nặng đánh vào nông thôn, nới rộng chút ít cho nông dân có được mảnh ruộng đất riêng nho nhỏ có vài con ḅ riêng để làm kinh tế gia đ́nh, mở "chợ nông trang" cho nông dân tiêu thụ sản phẩm làm ra ... Hàng chục vạn người thuộc các dân tộc trước đây bị Stalin lưu đày đến các vùng xa xôi, nay được trở về quê cũ. Dù việc này có gây ra biết bao vấn đề căng thẳng (do sự tranh giành đất đai, nhà cửa giữa người bị lưu đày và người mới được đưa đến ở) nhưng nói chung cũng làm cũng làm cho các dân tộc nạn nhân hả ḷng đôi chút. Ở các thành phố lớn đă gấp rút mở rộng việc xây dựng nhà ở để giải quyết nạn thiếu nhà dân phải chui rúc sống ở tầng hầm. Một vài tác phẩm văn học nghệ thuật trước kia bị cấm th́ nay bắt đầu được in ấn, xuất bản ... Một bầu không khí hồ hởi phấn khởi dâng lên mạnh trong dân chúng và đảng viên ở Liên Xô, mọi người cảm thấy như được giải phóng thật sự. Hồi ấy, người dân Liên Xô gọi thời kỳ này là "trời trở ấm" (ottepel), ư nói thời tiết dễ chịu lên sau những ngày băng giá.
Như đă nói, tiếng vang của đại hội 20 ĐCSLX truyền khắp thế giới. "Trời trở ấm" lan đến nhiều nước "xă hội chủ nghĩa", nhất là các nước Đông Âu, kích thích ư thức dân chủ và tự do của người dân, từ trí thức cho đến công nhân. Người ta cảm thấy có cơ hội đứng lên để ít nhất nới bớt gông xiềng xô-viết. Ba Lan là nước đầu tiên đứng thẳng người lên. Thoạt đầu là công nhân nhà máy ô tô ở Poznan nổi dậy (28.6.1956), tiếp đến công nhân nhiều nhà máy khác hưởng ứng, họ biểu t́nh ḥa b́nh với khẩu hiệu "Bánh ḿ!" và "Quân đội Liên Xô rút khỏi Ba Lan!". Đă xảy ra những cuộc đụng độ giữa những người biểu t́nh và cảnh sát, có nhiều người chết và bị thương. Một cuộc đấu tranh rất ác liệt đă diễn ra trong nội bộ ĐCS Ba Lan (tên gọi chính thức là Đảng công nhân thống nhất Ba Lan). Ban lănh đạo mới của ĐCS Ba Lan đứng đầu là Gomulka đă đưa ra chương tŕnh hoạt động mới giảm nhẹ gánh nặng cho nông dân và b́nh thường hóa quan hệ với Liên Xô. Chính nhờ sự mềm dẻo của Gomulka mà Ba Lan tránh được sự can thiệp quân sự của Liên Xô.
Những sự kiện đầy kịch tính ở Hungarie năm 1956 là một cú sốc mạnh đối với giới cầm quyền chẳng những ở Liên Xô mà c̣n ở nhiều nước "xă hội chủ nghĩa" khác: nỗi khiếp sợ mất nền thống trị đă ḱm hăm ư hướng muốn cải cách của họ. C̣n 15 năm sau, khi đă bị hạ bệ rồi, nhắc đến những sự kiện ở Hungarie năm 1956, Khrutshev không hề có một chút cắn rứt lương tâm, không hề nghĩ rằng chính ông ta và ban lănh đạo Liên Xô đă xử sự một cách phản bội đối với cuộc cách mạng giải phóng của cả một dân tộc. Nhưng một ư niệm như thế làm sao có thể có được ở một con người theo chủ nghĩa Lenin ?!
Thế là đă qua rồi đợt "trời trở ấm", đất nước và xă hội Liên Xô lại bị ch́m trong giá lạnh! Brezhnev và ban lănh đạo mới của ĐCSLX mưu đồ khôi phục lại chủ nghĩa Stalin dưới dạng khác, không thể trắng trợn như trước được nữa, nhưng vẫn rất khắc nghiệt. Chính vào thời gian này sự bất b́nh trong dân chúng, nhất là trong trí thức thể hiện rơ rệt nhất qua phong trào dissidence (bất đồng chính kiến) ở Liên Xô. Brezhnev và ban lănh đạo Liên Xô không thể giải quyết được vấn đề đoàn kết thống nhất PTCSQT, không thể hàn gắn được "mối t́nh Xô-Trung", trái lại mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc ngày càng trầm trọng, thậâm chí hồi tháng 3.1969, quân đội của hai nước đă đánh nhau kịch liệt ở Damanski (Trung Quốc gọi là đảo Chenbao) làm cả hai bên đều có nhiều người chết.
Một vài ĐCS ở Đông Âu nằm trong gọng ḱm xô-viết cố t́m đường thoát ra khỏi những bế tắc của chế độ cực quyền "xă hội chủ nghĩa" cả về kinh tế lẫn chính trị. Một trong những nước Đông Âu đi tiên phong trong việc cải cách là Tiệp Khắc (1967-1968). Các lực lượng cấp tiến nhất trong ban lănh đạo Tiệp Khắc do Alexandre Dubcek đứng đầu đă khởi sự những cải cách quan trọng, như nới rộng quyền tự do ngôn luận, cải tổ kinh tế theo hướng cho xí nghiệp được tự quản và phần nào dè dặt áp dụng nguyên tắc kinh tế thị trường. Về mặt kinh tế, người ta phê phán chế độ quản lư kinh tế trung ương tập quyền, giảm bớt việc lập kế hoạch tập trung, nới cho các xí nghiệp được quyền tự trị quyết định cả về đầu tư bằng tiền lăi do ḿnh tự tạo ra cũng như tín dụng ngân hàng, cho công nhân các xí nghiệp được bầu hội đồng công nhân có quyền tham gia vào các quyết định của quản đốc xí nghiệp. Những cuộc cải cách đó được dân chúng nhiệt liệt hoan nghênh, người ta gọi đó là "Mùa Xuân Praha". Những người cộng sản cấp tiến Tiệp Khắc muốn từ bỏ mô h́nh chủ nghĩa xă hội xô-viết, thứ "chủ nghĩa xă hội trại lính", để cải biến thành "chủ nghĩa xă hội mặt người", tức là làm cho nó nhân bản hơn. Khiếp sợ trước những đổi thay căn bản của Tiệp Khắc, Brezhnev và ban lănh đạo ĐCSLX chủ trương huy động quân đội của khối Hiệp ước Varsava, cụ thể là quân Liên Xô, Đông Đức, Ba Lan, Hungarie, Bulgarie (riêng Rumanie không chịu tham gia) với quân số nửa triệu, 4600 xe tăng, 800 máy bay, 2000 đại pháo đêm 20 rạng ngày 21.8.1968 đă tiến vào Tiệp Khắc để lật đổ chính quyền hợp pháp và dựng lên một đám bù nh́n mới làm tay sai. Dân chúng chống cự rất quyết liệt, họ đă thể hiện biết bao tấm gương hy sinh, quên ḿnh v́ nước. Nhưng trứng làm sao chọi nổi với đá ?! Cuối cùng, Tiệp Khắc phải chấp nhận ngừng ngay cuộc cải cách và chịu để cho 75 ngàn quân Liên Xô "tạm" đóng trên đất nước ḿnh. Thế là "chủ nghĩa xă hội mặt thú" đă hoàn toàn đè bẹp "chủ nghĩa xă hội mặt người" !
Liên Xô dưới thời Brezhnev, Andropov, Chernenko ... vẫn không ngừng tiến hành chính sách bành trướng cộng sản mà họ gọi là "làm nghĩa vụ quốc tế". Cuộc phiêu lưu quân sự xô-viết ở Afganistan là một điển h́nh, không những thế, Liên Xô thông qua nước Cuba "anh em" để giúp đỡ cho cho các thế lực nổi loạn ở Nicaragoa, Salvador, thậm chí dùng binh lính Cuba đánh thuê (để trả nợ xô-viết) ở nhiều nước châu Phi, như Angola, Ethiopia, Mozambique. Người ta ngang ngược lấy cớ rằng dân Cuba "chiến đấu" ở các nước châu Phi là "làm nghĩa vụ quốc tế", hơn nữa người Cuba đến châu Phi cũng là con dân châu Phi quay trở về Đất Mẹ! Lúc đầu dân Cuba cũng tự hào "làm nghĩa vụ quốc tế" ở châu Phi, nhưng khi bị sa lầy trong cuộc chiến tranh kéo dài th́ dân Cuba lại bất măn: v́ sao thanh niên Cuba phải chết ở các chiến trường xa đất nước ḿnh hàng nhiều ngàn cây số!
Từ cuối những năm 70 đầu những năm 80, PTCSQT ngày một khủng hoảng. Các nước "xă hội chủ nghĩa" đều đang rối ren, ở Đông Âu dân chúng chốngđối thầm lặng, chỉ mong thoát khỏi gông xiềng xô-viết và giànhđược dân chủ. C̣n các ĐCS Âu Mỹ cũng hết sức bối rối và ngày càng sa sút, "chủ nghĩa cộng sản Âu châu" trở thành món hàng ế khách không thu hút được quần chúng nên qua các cuộc bầu cử ĐCS nhiều nướcđă bị thất bại thảm hại, nhất là ĐCS Pháp.
Đoàn đại biểu ĐCSVN (tên chính thức hồi đó là Đảng lao động Việt Nam) do chủ tịch Hồ Chí Minh và tổng bí thư Trường Chinh dẫn đầu dự đại hội 20 ĐCSLX. Trong và ngay sau đại hội, đoàn đă nhiệt liệt tán thành những nghị quyết của đại hội 20. Trong cuộc phỏng vấn của Đài phát thanh Moskva ngày 3.3.1956, Trường Chinh đă đánh giá rất cao đại hội 20 ĐCSLX và bày tỏ sự ủng hộ nồng nhiệt đối với những nghị quyết của đại hội. Ông nói: "Đại hội lần thứ 20 của ĐCSLX là một cuộc đại hội lịch sử quan trọng nhất từ khi Lenin mất đến nay" (xem: tạp chí "Học Tập", số 4, tháng 3.1956, tr.174). Đánh giá đại hội 20 như thế có nghĩa là ông bày tỏ thái độ mạnh mẽ phê phán thời đại Stalin và dứt khoát tán thành nghị quyết đại hội 20. Nhưng khi về nước, tại hội nghị TƯ ĐCSVN (19-24.4.1956) để nghe báo cáo và bàn về nghị quyết đại hội 20, do tác động của thành phần bảo thủ thân Mao trong bộ chính trị, như Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Văn Hoan ... nên thái độ của TƯ ĐCSVN có tính chất lấp lửng, ngoài mặt th́ làm ra vẻ ủng hộ đại hội 20, c̣n bên trong th́ không ủng hộ. Lúc đầu, thái độ đó được giấu kín trong phạm vi TƯ biết với nhau thôi, không phổ biến rộng ngay cả cho cán bộ cao cấp và trung cấp của đảng. Điều này tỏ rơ rằng trong nội bộ TƯ hồi đó đang có cuộc đấu tranh tư tưởng giữa các phe.
Tiếp đó, ở nông thôn miền Bắc, ĐCS đă tiến hành "sửa sai", c̣n ở mấy thành phố lớn th́ tổ chức những cuộc họp ở khu phố cho dân chúng phê b́nh công việc của đảng (quản lư hộ khẩu, mậu dịch ...). Người ta cũng "loáng thoáng" hứa hẹn mở rộng dân chủ ... Thật ra, "sửa sai" cải cách ruộng đất là một việc rất phức tạp, dù có thực tâm cũng không thể "sửa" thật sự được, không thể giải quyết được những vấn đề kinh tế xă hội đă bị đảo lộn, cũng như những bi kịch đau thương, những quan hệ t́nh cảm thương tổn do cải cách ruộng đất gây ra. Cho nên, lời cửa miệng của dân "càng sửa càng sai" là sự đánh giá hoàn toàn chân thật. C̣n những cuộc họp ở khu phố để mở rộng dân chủ lắng nghe ư kiến của dân - chỉ có tính chất h́nh thức, cho dân nói cho "hả", hé soupape xả bớt hơi, rồi đâu lại vào đấy, chẳng có ai giải quyết ǵ, chẳng qua chỉ là cơ hội cho công an dễ dàng theo dơi những ai mạnh dạn "có ư kiến phê b́nh" để sau này vào "sổ đen" trù dập. Ngay như hội nghị Ủy ban TƯ Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, họp (tháng 10.1956) đàng hoàng, trang trọng, có đủ mặt "bá quan", với sự hiện diện của những lănh tụ của ĐCS, như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Xuân Thủy ... cũng thế, họ kêu gọi nhân sĩ, trí thức chân thành góp ư kiến với đảng, nhưng khi luật sư Nguyễn Mạnh Tường dám thẳng thắn đọc bài diễn văn nổi tiếng "Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất xây dựng quan điểm lănh đạo" để góp ư kiến với ĐCS th́ về sau ông bị trả thù, bị tước đoạt tự do và đày đọa suốt đời.
Những sự kiện xảy ra ở Ba Lan và Hungarie (1956) đă làm ban lănh đạo ĐCSVN lo sợ. Họ quên ngay lời hứa hẹn mở rộng tự do dân chủ khi hội nghị TƯ nghiên cứu nghị quyết đại hội 20 của ĐCSLX, và ngày càng nghiêng theo chủ nghĩa Mao, ngày càng siết chặt nền "chuyên chính" để mở đường cho miền Bắc tiến lên "chủ nghĩa xă hội" theo nghị quyết hội nghị lần thứ 13 của TƯ ĐCSVN (tháng 12.1957).
Trong những đợt bắt bớ đầu tiên, tập đoàn thống trị chủ yếu nhắm vào những người thuộc các đảng phái khác và đặc biệt là sĩ quan, binh lính, công chức của "ngụy quân, ngụy quyền", mặc dù những người này đă chịu ở lại miền Bắc không chạy vào Nam, đă chịu quy phục chính quyền mới, và công chức "cũ" th́ đă được chính quyền mới tuyên bố "lưu dụng". Rồi dần dần đến lượt những người trí thức, nhà văn, nhà báo, giáo sư, thậm chí cán bộ, đảng viên, quân nhân... là những người đă từng tham gia kháng chiến, nay có những ư kiến thắc mắc, bất đồng với đường lối chính sách của đảng, th́ vẫn bị tống vào các trại tập trung theo nghị quyết phát xít số 49/NQ/TVQH nói trên. Mạng lưới trại tập trung (để tránh chữ "trại tập trung" có tính chất phát xít lộ liễu quá, người ta dùng chữ "trại cải tạo" na ná chữ "trại lao cải" của Trung Quốc) được mở rộng khắp miền Bắc. Hàng chục vạn người bị tù đày hầu như vô thời hạn, vợ con họ bị phân biệt đối xử, t́nh cảnh họ thật là bi thảm. Bao nhiêu người khốn khổ đă phải bỏ xác ở các trại tù. Đây thực sự là một tội ác của tập đoàn thống trị ĐCSVN đối với dân tộc Việt Nam, và khốn thay, tội ác đó đă được lặp lại một lần nữa với quy mô c̣n lớn hơn, sau khi tập đoàn này chiếm được miền Nam.
T́nh cảnh người dân b́nh thường trong chế độ "mới" thật vô cùng bi đát, trong dân gian vẫn c̣n truyền tụng những câu ca dao chua xót, như:
"Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa

Vấn đề gây cấn nhất hồi đó là vấn đề con đường thống nhất đất nước. Không một người Việt Nam nào không mong muốn thống nhất đất nước, nhưng thống nhất bằng con đường nào không phải là vấn đề dễ dàng nhất trí. Phải nói thẳng rằng tập đoàn thống trị ĐCSVN hồi những năm 1959 và 1960 đă có hành động vi phạm dân chủ nghiêm trọng đối với cơ quan có quyền lực cao nhất trong đảng là đại hội. Tại hội nghị lần thứ 15 của TƯ (tháng 1.1959) đă bí mật quyết định phải dùng bạo lực cách mạng, dùng vơ trang đấu tranh để thống nhất đất nước và BCT TƯ đă quyết định điều động quân đội từ miền Bắc vào miền Nam, vận chuyển quân trang quân dụng, vơ khí vào miền Nam để tiến hành chiến tranh thống nhất đất nước. Thế nhưng BCT TƯ giữ bí mật không đưa vấn đề đó ra thảo luận tại đại hội toàn quốc lần thứ 3 của ĐCSVN, mà tại đại hội vẫn báo cáo và trong nghị quyết đại hội vẫn ghi là đảng "chủ trương thống nhất Tổ quốc bằng con đường ḥa b́nh". Vấn đề thống nhất đất nước là một vấn đề t́nh cảm thiêng liêng, cho nên những cán bộ không tán thành nghị quyết hội nghị TƯ lần thứ 9 (thường gọi là "nghị quyết 9"), mặc dù đă biết trước là tập đoàn thống trị trong đảng theo Mao hồi đó đi theo con đường chiến tranh để thống nhất đất nước, trong thâm tâm đă thấy trước thảm kịch của toàn dân trong cuộc nội chiến khủng khiếp sắp tới, nhưng hầu như không có ai dám thẳng thắn phản đối v́ sợ tập đoàn thống trị ghép tội phản quốc, chống lại thống nhất đất nước. Dù vậy phe Mao-ít vẫn rất e ngại những cán bộ đảng viên "bảo lưu ư kiến, không tán thành đường lối theo Trung Quốc của họ, sẽ trở thành một lực lượng đối lập nguy hiểm cho quyền lực của họ, nên trước hội nghị TƯ lần thứ 9, họ đă t́m cách loại dần những cán bộ "có quan điểm khác" ra khỏi những vị trí trọng yếu (cách chức bộ trưởng ngoại giao Ung Văn Khiêm, gạt một số cán bộ cao cấp khác ra khỏi cương vị lănh đạo các ngành quan trọng, hoặc cho họ giữ hư vị ngồi chơi xơi nước), c̣n sau hội nghị TƯ lần thứ 9 th́ họ chuẩn bị cho một đợt thanh trừng quyết liệt đối với những cán bộ này.਀
V́ thế, hành động "chuyên chính" ác liệt tiếp theo của tập đoàn thống trị là nhằm đánh ngay vào nội bộ ĐCS, nhằm những cán bộ đảng viên, đặc biệt là cán bộ cao cấp, trung cấp, tán thành quan điểm của ĐCSLX, chống quan điểm của ĐCSTQ và không tán thành "nghị quyết 9". Đó là "vụ án xét lại - chống Đảng" (viết tắt VXLCĐ) thực tế bắt đầu từ cuối năm 1963, mở rộng năm 1967 và kéo dài măi cho đến sau này. (Hồi đầu thập niên 90, chúng tôi đă có dịp tŕnh bày cuộc đàn áp khốc liệt này trong bài: Những trang sử đầm đ́a nước mắt c̣n chưa chấm hết - "vụ án xét lại - chống Đảng", nên xin được miễn viết cụ thể ở đây).
Sau khi "nghị quyết 9" lái hẳn toàn bộ đường lối của ĐCSVN theo đường lối của ĐCSTQ, th́ đầu năm 1964, Lê Duẩn dẫn đầu đoàn đại biểu ĐCSVN sang Liên Xô để - theo lời của Trần Quỳnh - "nói rơ lập trường quan điểm của Đảng ta và kiến nghị Liên Xô xem xét lại lập trường của ḿnh" đồng thời xin viện trợ quân sự của Liên Xô. Nhưng khi gặp Khrutchev, Lê Duẩn đă im re không nói ǵ đến "nghị quyết 9" chống chủ nghĩa xét lại (thật ra, không nói th́ phía Liên Xô đă biết rơ về nội dung nghị quyết đó), mà chỉ báo cáo t́nh h́nh miền Nam và xin viện trợ. Khrutchev đă đồng ư viện trợ cho Việt Nam. Đúng vào dịp này, ngay tại Moskva, đại tá Lê Vinh Quốc và thượng tá Văn Doăn, sau khi tốt nghiệp Học viện quân chính Lenin, đă tuyên bố phản đối "nghị quyết 9" và xin cư trú chính trị ở Liên Xô. Mấy tháng sau đến lượt kẻ viết bài này và hàng chục cán bộ đảng viên, sinh viên Việt Nam cũng đă phản đối "nghị quyết 9" của TƯ ĐCSVN, rồi xin cư trú chính trị ở Liên Xô và một số nước Đông Âu.
Lê Duẩn và phe cánh tự cho ḿnh là người theo chủ nghĩa Marx-Lenin "đúng nhất": vừa theo chủ nghĩa Mao, nhưng lại vừa ghét Mao, vừa chống chủ nghĩa xét lại hiện đại Liên Xô (dù không c̣n Khutchev), nhưng lại vừa cố cầu cạnh, ve văn Brezhnev và ban lănh đạo Liên Xô để xin viện trợ. Thậm chí, tại đại hội 23 của ĐCSLX, ông ta c̣n tuyên bố "Liên Xô là Tổ quốc thứ hai của chúng tôi" ! Một số đại biểu Liên Xô vỗ tay trong hội trường, c̣n ngoài hành lang một số khác lại nói với nhau là: "prostitutsia" (tiếng Nga: đĩ bợm). Mặc dù Trần Quỳnh hết lời ca ngợi "tài khôn khéo" của Ba Duẩn, nhưng qua những điều mô tả trong sách "Những kỷ niệm về Lê Duẩn" th́ thấy "người cộng sản số một" của Việt Nam quả thật có nhân cách một tay đại bợm lừa dối mọi người. Cả Liên Xô lẫn Trung Quốc đều cố gắng gồng ḿnh lên giúp đỡ Việt Nam đánh thắng Mỹ. Trong thời gian này ban lănh đạo Việt Nam một mặt ra sức khai thác đến mức tối đa viện trợ của Liên Xô (chẳng hạn, mỗi công tŕnh Việt Nam đều yêu cầu Liên Xô viện trợ nhiều đến mức có thể dùng để xây dựng được hai - ba công tŕnh tương đương), mặt khác họ có thái độ cực kỳ vô trách nhiệm coi tài sản viện trợ là của "chủ nghĩa xét lại" càng lấy được nhiều và càng phung phí được nhiều th́ càng tốt. Cái tâm lư này lan đến cán bộ và người dân đến nỗi người ta giải thích những chữ tắt của quốc hiệu Liên Xô - CCCP là "các chú cứ phá" hay "càng cho càng phá" ! Cái gọi là "chủ nghĩa quốc tế vô sản" của ĐCSVN tới lúc này đă sa đọa đến như thế !
Ban lănh đạo Trung Quốc, dường như từ cuối thập niên 60, đă dè chừng và thận trọng hơn khi viện trợ cho ĐCSVN, thậm chí hăm dần viện trợ đó. Điều này làm ban lănh đạo Việt Nam rất bất măn. C̣n đến năm 1973, khi Mao Trạch Đông và ban lănh đạo Trung Quốc muốn ḥa giải với Mỹ th́ Lê Duẩn và những người lănh đạo Việt Nam đă hằn học tỏ thái độ thù địch với ĐCSTQ (lúc đầu chỉ nói trong nội bộ), họ cho rằng Trung Quốc không muốn Việt Nam thống nhất đất nước. Thái độ thù địch đó ngày càng mạnh và sau này đă dẫn tới sự xung đột giữa Việt Nam và Cam Bốt, rồi chiến tranh biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam, gây ra bao nhiêu tang tóc đau thương cho cả hai dân tộc. Một thời gian dàiù, những người cầm quyền cộng sản Việt Nam luôn miệng chửi rủa những người cầm quyền cộng sản Trung Quốc và đất nước họ là "kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam", và ḷng thù địch Trung Quốc đó được ghi vào Hiến pháp Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 !
Qua những biến động trong thời kỳ thứ hai này, chúng ta có thể rút ra nhận xét này: ảnh hưởng của đại hội 20 ĐCSLX đă tạo ra trong thời gian rất ngắn - chỉ vài tháng thôi - ở một số người lănh đạo Việt Nam ư muốn mở rộng tí chút dân chủ trong đảng và ngoài xă hội. Nhưng ảnh hưởng tích cực đó chỉ thoáng qua mà thôi, rồi trước những sự biến ở Ba Lan và Hungarie, đầu óc bảo thủ lại thắng thế trong ban lănh đạo v́ nỗi sợ mất mát quyền lực. Nói chung, trong thời kỳ biến động này tập đoàn thống trị ĐCSVN đứng trên lập trường bảo thủ, chống cải cách, chống dân chủ hóa đảng và xă hộị V́ thế toàn bộ sinh hoạt đảng cũng như đời sống chính trị của đất nước ngày càng bị siết chặt trong một chế độ độc tài cực kỳ khắt nghiệt dựa trên nền tảng "chuyên chính vô sản" theo tinh thần chủ nghĩa Stalin, chủ nghĩa Mao với ư định tiến hành đến cùng cuộc nội chiến để "thống nhất" đất nước và xây dựng "chủ nghĩa xă hội trại lính" trong toàn quốc. Hậu quả của một đường lối như thế đă quá rơ ràng, thiết tưởng không cần nói cụ thể ở đây. Chỉ cần h́nh dung cái giá mà toàn dân tộc ta đă phải trả cho cuộc nội chiến (1959-1975) và cho việc xây dựng chủ nghĩa trong cả nước (ở miền Bắc từ 1958, ở miền Nam từ năm 1976 cho đến năm 1986) th́ cũng đủ thấy được tội ác lớn lao thế nào của những kẻ đă đề ra và thực hiện đường lối đó. Người viết không muốn dẫn các số liệu mà chính quyền Hà Nô.iđưa ra về những tổn thất lớn lao trong cuộc chiến tranh vừa qua (chẳng hạn, ba triệu người chết trong chiến tranh ...) v́ e rằng con số đó c̣n thấp hơn thực tế. Hy vọng về sau sẽ có cơ quan nghiên cứu vấnđề này một cách độc lập và khách quan.

Nguyễn Minh Cần

Thư Mục
3. Tổ Quốc Chúng Ta. Moskva, 1991, tập 2, tr.45. (ở tr.99)
5. Nguyễn Minh Cần. Công Lư Đ̣i Hỏi. NXB Văn Nghệ, 1997, bài "Nhân Văn - Giai Phẩm – Một Tư Trào, Một Vụ Án, Một Tội Ác”, tr.11-56. (ở tr.125)
6. Sách đă dẫn, bài "Những Trang Sử Đầm Đ́a Nước Mắt C̣n Chưa Chấm Hết - Vụ Án Xét Lại – Chống Đảng”, tr.85-123. (ở tr.131)
7. Trần Quỳnh. Những Kỷ Niệm Về Lê Duẩn. (chưa in). (ở tr. 132)
9. Izvestia – Tin Tức, cơ quan ngôn luận của Xô-viết Tối Cao Liên Xô, ngày 7.7.1988. (ở tr.138)
11. Volkogonov D. Bảy Lănh Tụ, Moskva, 1995, tập 2, tr.325-328. (ở tr.144)
14. APRF – Lưu Trữ Của Tổng Thống Liên Bang Nga. Bản ghi chép phiên họp Bộ Chính Trị ĐCSLX, ngày 20.11.1989, List 409. (ở tr.161)
16. SKHSD – Trung Tâm Bảo Quản Tài Liệu Hiện Đại. Biên bản Phiên họp Bộ Chính Trị ĐCSLX, ngày 28.5.1990, List 1-5. (ở tr.162)
18. Thành Tín. Hoa Xuyên Tuyết. 1991, tr.161. (ở tr.187)
19. Medvedev V. Sự Tan Ră. Nó Đă Chín Muồi Thế Nào Trong "Hệ Thống Xă Hội Chủ Nghĩa Thế Giới”. Moskva, 1994, tiếng Nga, tr.288. (ở tr.188)
21. Medvedev V. Sự Tan Ră ..., tiếng Nga, tr.291-304. (ở tr.198-199)
23. Medvedev V. Sự Tan Ră ..., tiếng Nga, tr.295. (ở tr.212).

Danh Mục
Andropov Yu.V. (1914-84) - đại tướng, chủ tịch KGB LX (1967-82), tổng bí thư ĐCSLX (1982-84), chủ tịch XV Tối cao LX từ 1983. Thời ông cầm quyền được đánh dấu bởi hàng loạt vụ đàn áp khốc liệt những người bất đồng chính kiến, t́nh trạng khủng hoảng của LX thêm trầm trọng và việc đẩy mạnh cuộc phiêu lưu quân sự ở Afganistan; ông có ư định dùng biện pháp hành chính để ngăn cuộc khủng hoảng của đất nước.
Beria L.P. (1899-1953) – phó thủ tướng LX (1941-53), ủy viên Bộ chính trị ĐCS LX (1946-53), nguyên soái LX, bộ trưởng Bộ nội vụ LX, một trong những người tích cực tổ chức các cuộc đàn áp hàng loạt người vô tội dưới thời Stalin; 1953 bị buộc tội âm mưu cướp chính quyền, bị xử bắn.
Bùi Quang Đoài – người chủ trương báo "Đất Mới” của sinh viên, hồi 1956 bị đàn áp tàn tệ.
Ceausescu N. (1918-89) - người đứng đầu Đảng Cộng sản Rumanie, nắm quyền trong 24 năm, độc tài và bảo thủ, bị lật đổ và bị giết cùng với vợ hồi 1989.
Dubcek A. (1921-92) – bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Tiệp Khắc từ đầu 1968 đến tháng 4.1969, đă bắt đầu tiến hành những cải cách dân chủ ở Tiệp Khắc làm ban lănh đạo Đảng Cộng Sản LX lo sợ, huy động quân đội của khối Hiệp ước Varsava can thiệp vơ trang vào Tiệp Khắc (1968). Sau cuộc "cách mạng nhung” hồi 1989, ông làm chủ tịch Quốc hội Tiệp Khắc.
Gorbachev M.S. (s.1931) – tổng bí thư Đảng Cộng sản LX (1985-91), chủ tịch Chủ Tịch Đoàn Xô-viết Tối Cao LX (1988-89), Tổng thống LX (1989-90), người khởi xướng và thực hiện "perestroika” và "glasnost” với ư muốn đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng. Điều nổi bật dưới thời ông cầm quyền là sự chấm dứt "chiến tranh lạnh”, sự sụp đổ của chủ nghĩa xă hội ở Đông Âu và ngay chính ở Liên Xô. Ông được giải thưởng Nobel Ḥa B́nh (1990).
Hoa Quốc Phong (s.1921) - người kế nghiệp của Mao Trạch Đông, đứng đầu Đảng Cộng sản và nhà nước Trung Quốc một thời.
Hoàng Khoa Khôi (s.1911) - người theo phong trào Đệ Tứ Quốc Tế từ năm 1943, ra báo "Vô Sản”, "Tranh Đấu”, Tiếng Thợ”, "Diễn Đàn Mác-Xít”, v.v... tŕnh bày quan điểm của những người trotskistes VN ở Pháp; là người dân chủ tích cực, hiện sống ở Pháp.
Hoàng Tiến – nhà văn, người đấu tranh can đảm cho dân chủ, tự do và nhân quyền.
Hoàng Văn Hoan (1905-?)– nhà cách mạng cộng sản lăo thành, ủy viên Bộ Chính trị trong nhiều năm dưới thời Hồ Chí Minh và Lê Duẩn; về sau v́ bất đồng ư kiến với Lê Duẩn – Lê Đức Thọ nên bỏ sang TQ, bị kết án tử h́nh vắng mặt.
Khrutshev N.S. (1894-1971) - ủy viên Bộ Chính trị (1939-53), từ 1953 đến 1964 đứng đầu Đảng Cộng sản LX; tại đại hội 20 (1956) và 22 (1961) ông phê phán kịch liệt tệ sùng bái cá nhân Stalin. Thời ông cầm quyền được đánh dấu bởi việc giải phóng cho hàng triệu người ra khỏi các trại tập trung và minh oan cho rất nhiều người vô tội trong các vụ án chính trị dưới thời Stalin, bởi sự cố gắng đẩy mạnh sản xuất công nông nghiệp và những nỗ lực để cải thiện đời sống cho người dân, nhưng đồng thời cũng bởi việc đàn áp cuộc biểu t́nh của công nhân ở Novocherkassk, việc đối đầu với phương Tây ở Berlin hồi 1961, ở biển Caribe hồi 1962, bởi cuộc can thiệp vơ trang vào Hungarie hồi 1956. Ông có để lại tập hồi kư, xuất bản ở Hoa Kỳ 1981, c̣n ở Nga xuất bản toàn bộ hồi 1999.
Lê Duẩn (1900-1986) - nhà cách mạng cộng sản, một trong những người đă lănh đạo phong trào đấu tranh ở miền Nam chống chế độ VN Cộng ḥa; tổng bí thư Đảng Cộng sản VN từ 1960-86. Thời ông cầm quyền được đánh dấu bởi việc đẩy mạnh cao độ cuộc chiến tranh với miền Nam, đưa đến sự sụp đổ của chế độ miền Nam và sự thống nhất cả nước dưới quyền của những người cộng sản, bởi việc xây dựng chế độ xă hội chủ nghĩa trại lính với nền chuyên chế vô sản tàn bạo, những cuộc đàn áp hàng loạt người dưới chế độ cũ, đàn áp các giáo phẩm và các giáo hội, đàn áp cán bộ, đảng viên, trí thức bất đồng chính kiến; nó cũng được đánh dấu bởi sự đưa quân đánh vào Cam Bốt và chiếm đóng nước này trong 10 năm, gây ra xung đột lớn với TQ. Đường lối của ông đă đưa đến cuộc khủng hoảng toàn diện của VN hồi cuối thập niên 80.
Lê Đức Thọ (tên thật Phan Đ́nh Khải) (1911-90) - ủy viên Bộ Chính trị có quyền lực nhất, ông đă thao túng trên chính trường VN dưới thời Lê Duẩn và sau đó; ông là người tích cực đẩy mạnh cuộc chiến tranh với miền Nam, người chỉ huy việc đánh vào Cam Bốt, chiếm đóng và thống trị trực tiếp nước này trong 10 năm. Cùng với Lê Duẩn, ông đă dựng lên vụ án Xét lại – chống Đảng, bắt bớ, giam cầm, tù đày nhiều cán bộ cao cấp, đảng viên và người ngoài Đảng bất đồng với đường lối theo Mao của TƯ Đảng hồi những năm 60. Với tư cách trưởng ban tổ chức TƯ, ông là một trong những người khởi xướng cái gọi là "chủ nghĩa lư lịch” trong và ngoài Đảng, tức là sự kỳ thị trầm trọng về mọi mặt đối với những người không thuộc thành phần công nông, những người lư lịch "có vấn đề”, v.v...
Lê Nguyên Chi – người bị ghép vào vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm, đă bị xử 5 năm tù. tr.124.
Lê Vinh Quốc (s.1927) – đại tá, phó chính uỷ Quân khu 3, tốt nghiệp Học viện Quân Chính Lenin (Moskva), v́ bất đồng với đường lối theo Mao của hội nghị TƯ lần thứ 9 (1963), đă thoát ly ĐCSVN và xin tỵ nạn chính trị tại LX hồi đầu năm 1964.
Liu Jialang - đảng viên trotskiste người Hoa bị vu oan và bị giết.
Lưu Thiếu Kỳ (1898-1960) – một trong những lănh tụ Đảng Cộng sản TQ, chủ tịch nước Cộng ḥa Nhân dân TQ (1959-68); theo lệnh của Mao Trạch Đông, ông bị khai trừ ra khỏi Đảng 1968, cách chức, bị đàn áp và đày đọa đến chết.
Maleter Pal - người không đảng phái, thành viên của chính phủ liên hiệp Hungarie thành lập ngày 3.11.1956, sau khi quân đội Liên Xô can thiệp vơ trang dẹp tan cuộc cách mạng nhân dân Hungarie, đă bị bắt và bị xử bắn năm 1958.਀
Mao Trạch Đông (1893-1976) – lănh tụ Đảng Cộng sản TQ, chủ tịch nước Cộng ḥa Nhân dân TQ (1954-59); người xây dựng chế độ cực quyền toàn trị khắc nghiệt, ông đề xướng phong trào "công xă nhân dân” và "đại nhảy vọt” ở TQ để tiến nhanh lên chủ nghĩa xă hội. Thời ông cầm quyền được đánh dấu bởi những cuộc vận động ác liệt, thường là đẫm máu, như cải cách ruộng đất, "tam phản”, "ngũ phản”, cải tạo trí thức, "đại cách mạng văn hóa” ... đă đẩy nền kinh tế, văn hóa TQ đến bên bờ vực thẳm. Hồi sinh thời của ông, việc sùng bái cá nhân ông đă lên cao đến mức chưa từng thấy.
Medvedev V. - ủy viên Bộ Chính trị TƯ Đảng Cộng sản LX dưới thời Gorbachev, phụ trách Ban quốc tế TƯ.
Mitterand F. (1916-96) – lănh tụ Đảng Xă hội chủ nghĩa Pháp, tổng thống Pháp (1981-95).
Neizvestnyi E.I. (s.1925) – nhà điêu khắc Nga nổi tiếng. tr.114.
Nguyễn Bính (1917-1965) – nhà thơ trữ t́nh nổi tiếng, hồi giữa thập niên chủ trương tờ "Trăm Hoa”, bị đàn áp.
Nguyễn Hữu Đang (s.1913) – đảng viên cộng sản, một trong những người lănh đạo Hội Truyền Bá Chữ Quốc Ngữ; hồi giữa thập niên 50 đă phát biểu ư kiến đ̣i tự do, dân chủ, làm báo Nhân Văn; ông bị coi là người lănh đạo tư tưởng của Nhân Văn, bị đàn áp tàn tệ trong vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm, bị xử án 15 năm tù, sau khi hết hạn ngồi tù c̣n bị quản chế, đày đọa trong cảnh khốn cùng.
Nguyễn Văn Linh - đảng viên trotskiste Việt Nam bị vu oan và bị giết.
Nguyễn Văn Tư – một trong những người chủ trương ra Giai Phẩm, bị đàn áp.
Pasternak B.L. (1890-1960) – nhà thơ trữ t́nh, nhà văn Nga. Tác phẩm "Bác Sĩ Zhivago” của ông được giải thưởng Nobel văn chương hồi 1958, nhưng do bị đe dọa trục xuất khỏi LX, ông đă phải từ chối, đến 1990, con trai ông thay mặt bố đă quá cố để nhận giải. "Bác Sĩ Zhivago” được xuất bản ở nước ngoài hồi 1958, nhưng măi đến 1988 mới được xuất bản ở Nga. ਀
Phan Khôi (1887-1959) – nhà báo kỳ cựu, nhà văn, người chủ trương báo Nhân Văn hồi 1956, phát ngôn những tư tưởng dân chủ, đăng những bài đ̣i hỏi dân chủ, nên bị đàn áp tàn tệ.
Phan Văn Chánh - đảng viên trotskiste VN, bị giết sau khi những người cộng sản nắm chính quyền. tr.97
Rakoshi M. (1892-1971) người đứng đầu Đảng Cộng sản Hungarie trong nhiều năm (1945-56), tháng 7.1956 bị cách chức.
Solzhenitsyn A.I. (s.1918) – nhà văn Nga nổi tiếng, những tác phẩm của ông đă nêu bật bản chất tốt đẹp của tâm hồn con người trong hoàn cảnh của chế độ cực quyền toàn trị phi nhân, ông tố cáo những tội ác dưới chế độ cực quyền toàn trị xô-viết, v́ thế ông bị tù đày nhiều năm, bị đàn áp tàn tệ, bị bị tước quốc tịch và trục xuất ra khỏi LX hồi 1974, phải sống lưu vong trong 20 năm; đến 1994 ông trở về nước khi chế độ cộng sản đă sụp đổ. Ông được giải Nobel văn chương 1970.
Suslov M.A. (1902-82) – ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản LX trong nhiều năm, là nhà tư tưởng bảo thủ giáo điều có ảnh hưởng lớn dưới thời Brezhnev. tr.110.
Tạ Thu Thâu (1906-45) - một trong những lănh tụ trotskiste VN nổi tiếng, nhà cách mạng theo Đệ Tứ Quốc Tế, chủ trương làm cách mạng vô sản, bị giết sau khi những người cộng sản theo Đệ Tam Quốc Tế nắm chính quyền.
Tito B.I (1892-1980) – lănh tụ của Liên Minh những người cộng sản Nam Tư, người đứng đầu nhà nước Nam Tư; do không chịu theo khuôn mẫu xô-viết để xây dựng xă hội Nam Tư, nên bị Stalin trục xuất Đảng Cộng sản Nam Tư ra khỏi phong trào cộng sản quốc tế và vu khống cho ông là gián điệp của đế quốc, các đảng "anh em” đều hùa theo LX tẩy chay Nam Tư và đả kích Tito là phần tử xét lại hiện đại.
Trần Quốc Hoàn – ủy viên Bộ Chính trị nhiều năm dưới thời Lê Duẩn, làm bộ trưởng công an, tham gia đắc lực việc đàn áp chính trị dưới thời Lê Duẩn-Lê Đức Thọ.
Trần Thiếu Bảo (Minh Đức) – người xuất bản tư nhân, đă tái bản một số tác phẩm có giá trị trước cách mạng 1945, như "Tiêu Sơn Tráng Sĩ” của Khái Hưng, "Số Đỏ” của Vũ Trọng Phụng, nên bị ghép vào vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm, bị xử án 15 năm tù, tài sản bị tịch thu.਀
Trần Văn Thạch (1905-45) - đảng viên trotskiste VN bị giết sau khi những người cộng sản nắm chính quyền.
Trotsky L.D. (tên thật là Bronshtein) (1879-1940) - nhà cách mạng cộng sản nổi tiếng, ủy viên Bộ Chính trị TƯ Đảng Cộng sản Nga và Liên Xô (1917, 1919-26), bộ trưởng ngoại giao (1917-18), bộ trưởng quân sự (1918-25). Cuộc tranh giành quyền lực giữa Stalin và Trotsky đă kết thúc bằng sự thất bại của Trotsky, nên 1927, ông bị khai trừ ra khỏi Đảng, bị đày đến Alma Ata, rồi trục xuất khỏi LX (1929). Ông khởi xướng thành lập Đệ Tứ Quốc Tế (1938), bị giết bởi tên đặc vụ xô-viết tên là R.Merkader.
Văn Cao (1923-95) – nhà nghệ sĩ đa tài, nhạc sĩ nổi tiếng, nhà thơ, họa sĩ, v́ có ư hướng đ̣i tự do sáng tác và tham gia các tập Giai Phẩm hồi giữa thập niên 50, ông đă bị đàn áp tàn tệ, bị chà đạp, sống trong cảnh nghèo nàn và o ép.
Vơ Nguyên Giáp (s.1911) - nhà cách mạng cộng sản nổi tiếng, đại tướng, đă chỉ huy thắng lợi trong nhiều chiến dịch, nhất là chiến dịch Điên Biên Phủ, góp phần lớn cho thắng lợi trong chiến tranh chống Pháp; ông là ủy viên Bộ Chính trị TƯ Đảng trong nhiều năm, hồi 1982 bị đưa ra khỏi Bộ Chính trị dưới thời Lê Duẩn, nay nghỉ hưu.
Xuân Thủy (1912-85) – bộ trưởng ngoại giao, kế nhiệm Ung Văn Khiêm, trên danh nghĩa là người đứng đầu phái đoàn VN đàm phán tại Paris hồi những năm 70.
Zhipkov T. (1911-98) – người đứng đầu Đảng Cộng sản Bungarie, cầm quyền 35 năm; bị cách chức và khai trừ khỏi Đảng hồi 1989.

Nguyễn Minh Cần